Địa chỉ:

Trụ sở: Số 316 Trường Chinh, Phường Quán Trữ, quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng, Việt Nam

Hotline:

0983 979 979

Tin tức

Ngành than đã nộp ngân sách gần 69.000 tỷ đồng

Theo lãnh đạo TKV, trước những diễn biến của tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, tập đoàn đã nhanh chóng điều chỉnh mục tiêu từ kinh doanh đa ngành chuyển sang chỉ đầu tư vào ngành sản xuất chính, đẩy mạnh tái cơ cấu tổ chức sản xuất và quản trị doanh nghiệp.

Đồng thời, Tập đoàn cũng chủ động điều chỉnh giảm nhiều chỉ tiêu sản lượng cho phù hợp với quan hệ cung - cầu, tập trung cao nhất vào mục tiêu ổn định sản xuất, ổn định việc làm và thu nhập cho công nhân viên chức và người lao động.

Mặc dù giá xuất khẩu than có năm xuống thấp, TKV liên tục phải giảm sản lượng xuất khẩu theo chỉ đạo của Chính phủ, song Tập đoàn vẫn đảm bảo mức tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận và đóng góp cho ngân sách khá.

Cụ thể, tổng doanh thu giai đoạn 2011-2015 dự kiến đạt 527.878 tỷ đồng, tăng 15% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội I đề ra. Vốn Nhà nước tại TKV được bảo toàn và phát triển, tốc độ tăng trưởng tài sản đạt bình quân đạt 24,3%/năm.

Tổng tài sản năm 2015 dự kiến đạt 183.755 tỷ đồng; tăng gấp 2,23 lần so với năm 2010. Tổng mức đầu tư giai đoạn 2011-2015 là 112.327 tỷ đồng; tăng gấp 1,3 lần so với giai đoạn 2006-2010. Lợi nhuận hàng năm của Tập đoàn đều đạt kế hoạch đề ra. Tổng lợi nhuận giai đoạn 2011-2015 đạt 19.413 tỷ đồng.

Đồng thời, lãnh đạo TKV cũng cho biết, trong giai đoạn 2011-2015, Tập đoàn đã nộp ngân sách nhà nước 68.817 tỷ đồng; tăng gấp 2,66 lần so với nhiệm kỳ trước.

“Bên cạnh đó, TKV đã tập trung đẩy mạnh đầu tư để tăng năng lực sản xuất, đồng thời quan tâm phát triển tài nguyên được giao quản lý, thực hiện chiến lược phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” - ông Lê Minh Chuẩn cho biết.

Xem thêm

Xuất khẩu nông sản, khoáng sản: Lao đao vì giảm giá và lượng

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước ước đạt 31,7 tỷ USD, giảm 2,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 74,6 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ. Nếu không kể dầu thô, kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 71,9 tỷ USD, tăng 20,4%. 

Kim ngạch xuất khẩu tháng 8 ước tăng so với tháng 7, chủ yếu tăng ở một số mặt hàng nhóm công nghiệp chế biến như máy tính, sản phẩm điện tử và kinh kiện, điện thoại, phương tiện vận tải và phụ tùng...

Xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò quan trọng góp phần vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng trưởng khoảng 18,6% so với cùng kỳ năm 2014 (trong khi đó nhóm hàng nông sản, thủy sản giảm 10,2% và nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm 46,6%). 

Tuy nhiên, xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản giảm 10,2%. Nguyên nhân chủ yếu là do sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng thủy sản và 3 mặt hàng nông sản chủ lực gồm gạo, cà phê và cao su. Xuất khẩu thủy sản và gạo giảm do nguồn cung của các nước xuất khẩu dồi dào, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, đặc biệt là cạnh tranh từ Thái Lan, Ấn Ðộ; giá dầu thô giảm kéo theo chính sách duy trì giá trị đồng nội tệ thấp để thúc đẩy xuất khẩu của nhiều quốc gia, đồng thời dẫn đến hạn chế nhập khẩu; xu hướng bảo hộ đối với mặt hàng nông lâm thủy sản của các nước gia tăng...; xuất khẩu cà phê giảm do hạn hán kéo dài tại khu vực Tây Nguyên và sâu bệnh khiến sản lượng thu hoạch giảm.

Sụt giảm kim ngạch xuất khẩu nhiều nhất là nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm 46,6%, chủ yếu do kim ngạch xuất khẩu dầu thô (dầu thô giảm 0,6% về lượng và giảm 48,7% về kim ngạch, do giá giảm 48,4%). 


Khu vực FDI tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2015 của cả nước tăng thêm 8,8 tỷ USD so với cùng kỳ; trong đó, kim ngạch của khu vực FDI (không kể dầu thô) tăng khoảng 12,2 tỷ USD, kim ngạch của khu vực trong nước giảm hơn 800 triệu USD và kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm 2,6 tỷ USD. Các mặt hàng có kim ngạch lớn và có tốc độ tăng trưởng cao hầu hết do sự đóng góp của các doanh nghiệp FDI gồm điện thoại các loại và linh kiện (chiếm 99,7% tổng kim ngạch mặt hàng này của cả nước); máy vi tính linh kiện và điện tử (98,6%); giầy dép (79,3%); máy ảnh (99%)…

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần cho sản xuất, tiêu dùng trong nước tiếp tục tăng trưởng khá (tăng 16,4%). Nhiều nhóm hàng nguyên liệu được đẩy mạnh lượng nhập khẩu khi giá nhập khẩu có xu hướng giảm. 

Nhóm hàng cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu được kiểm soát tốt. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ vẫn có mức tăng khá cao so với cùng kỳ.

Trong tháng 8/2015, hoạt động nhập siêu ước là 100 triệu USD, bằng 0,7% kim ngạch xuất khẩu. Tính chung 8 tháng, cả nước nhập siêu 3,6 tỷ USD, bằng khoảng 3,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khu vực FDI (không kể dầu thô) xuất siêu 6,65 tỷ USD; nếu kể cả dầu thô, khu vực FDI xuất siêu gần 9,4 tỷ USD. Nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước ước đạt khoảng 13 tỷ USD.

Trong những tháng cuối năm, Bộ Công thương dự báo có một số khó khăn hoạt động xuất nhập khẩu phải đối mặt. Đó là giá và lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản và khoáng sản giảm sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước dự kiến tăng trưởng ở mức thấp, do các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của khu vực này là nông sản, thủy sản và khoáng sản đang bị suy giảm.

Xuất khẩu tăng trưởng chủ yếu ở những nhóm mặt hàng do khối các doanh nghiệp FDI sản xuất và là những mặt hàng dựa vào nguồn lao động rẻ và gia công hơn là những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; việc tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc khá lớn vào sản phẩm xuất khẩu của một số ít doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa bảo đảm tính bền vững trong tăng trưởng xuất khẩu, nhất là trong trường hợp các doanh nghiệp này bị suy giảm doanh số tiêu thụ hay gặp những biến cố bất thường khác.

Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nhiều nguyên, nhiên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu; do đó, phụ thuộc nhiều vào thị trường cung cấp ở nước ngoài, khi giá cả và chính sách biến động sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.

Có thể thấy, trước tình hình còn nhiều rủi ro hiện nay, đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn nữa của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp mới có thể hoàn thành được các mục tiêu xuất nhập khẩu đề ra.
 

 

Xem thêm

Xuất - nhập khẩu vẫn bị động

Các “thế mạnh” đều giảm

Bộ Công Thương vừa công bố: Kim ngạch xuất khẩu (XK) 8 tháng đầu năm ước đạt 106,3 tỉ USD, dù vẫn tăng trưởng 9% so với cùng kỳ năm trước, nhưng nhiều mặt hàng nhóm nông - lâm - thuỷ sản và nhiên liệu - khoáng sản đã giảm mạnh so với cùng kỳ, do giá giảm. Trong tháng 8, kim ngạch XK nhóm nông - thủy sản đạt 1,7 tỉ USD, tiếp tục giảm 1,5% so với tháng trước và giảm 13,5% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, kim ngạch XK nông - thuỷ sản chỉ đạt 13,4 tỉ USD, giảm 10,2% cùng kỳ, trong đó, giảm mạnh nhất là thủy sản đạt 4,2 tỉ USD, giảm 16,6%; càphê 1,8 tỉ USD, giảm 32,8%; gạo 1,8 tỉ USD, giảm 11,0% và caosu 921 triệu USD, giảm 10,3%.

Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu cũng giảm cả về lượng, như càphê giảm 32,4%, chè các loại giảm 5,4%, hạt tiêu giảm 21%... góp phần dẫn tới kim ngạch XK cả nhóm giảm tới 766 triệu USD. Nhóm hàng nhiên liệu - khoáng sản, trong 8 tháng, kim ngạch XK ước đạt 364 triệu USD, giảm 20,6% so với tháng trước và giảm 54,1% so cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 8 tháng đầu năm, XK khoáng sản, nguyên liệu thô ước đạt 3,5 tỉ USD, giảm 46,6%. Cứu cánh của xuất khẩu là nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu là đóng góp của khối FDI như điện thoại và linh kiện, dệt - may, da - giầy, sản phẩm điện tử, máy vi tính... 8 tháng tăng so với cùng kỳ, với kim ngạch XK ước đạt 83,4 tỉ USD, tăng 18,6%.

Theo các chuyên gia Bộ Công Thương, nguyên nhân chủ yếu của sự sụt giảm nêu trên là do các mặt hàng XK chủ lực của VN đang bị cạnh tranh mạnh do nguồn cung của các nước XK dồi dào, dẫn đến giá XK giảm, đặc biệt là nguồn cung từ Thái Lan, Ấn Ðộ. Bên cạnh đó, giá dầu thô giảm kéo theo chính sách duy trì giá trị đồng nội tệ thấp để thúc đẩy XK của nhiều quốc gia, đồng thời dẫn đến hạn chế nhập khẩu; xu hướng bảo hộ đối với mặt hàng nông - lâm - thủy sản của các nước tăng...; hiện xuất khẩu dầu thô đã giảm 0,6% về lượng và giảm 48,7% về giá trị do giá dầu XK giảm 48,4%. Điều đáng nói là đóng góp vào kim ngạch XK tăng chủ yếu là khu vực FDI với 74,6 tỉ USD giá trị kim ngạch, tăng 14,7% (kể cả dầu thô), cho thấy đây là khu vực có sức cạnh tranh cao và luôn dẫn đầu mức tăng trưởng, dù trong bối cảnh khó khăn.

Nhập siêu có xu hướng tăng

Theo ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công Thương thì trong 8 tháng qua, kim ngạch nhập khẩu (NK) của cả nước đã đạt 109,9 tỉ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ. Do giá NK giảm, trong đó giảm mạnh nhất là các mặt hàng dầu thô (giảm 44,0%), khí đốt hóa lỏng (giảm 43,4%), xăng dầu (giảm 40,0%)... đã tạo điều kiện giảm chi phí nhiên liệu trong nước. Tuy nhiên, trong số các mặt hàng cần kiểm soát và hạn chế NK, vẫn “lọt lưới” nhiều mặt hàng có mức nhập tăng cao. Điển hình là ôtô, xe máy, kim loại quý, đá quý... 8 tháng, kim ngạch NK nhóm này ước khoảng 4 tỉ USD, tăng 6,1% so cùng kỳ. Riêng NK ôtô nguyên chiếc dưới 9 chỗ ngồi, theo số liệu của Bộ Công Thương, đã tăng 63,3% về lượng; nhưng số liệu của Tổng cục Thống kê lại cho thấy tăng tới 80,2% (kể cả ôtô và thiết bị, phụ tùng), với kim ngạch NK 3,8 tỉ USD, gồm 74.000 chiếc ôtô nguyên chiếc nhập khẩu vào VN, mức lớn nhất trong vòng 5 năm trở lại đây.

Cơ cấu xuất - nhập khẩu của VN vẫn không được cải thiện đáng kể. Các mặt hàng XK tăng trưởng chủ yếu ở những nhóm mặt hàng do khối các doanh nghiệp FDI sản xuất và là những mặt hàng dựa vào nguồn lao động rẻ và gia công hơn là những mặt hàng có giá trị gia tăng cao. Việc tăng trưởng XK còn phụ thuộc khá lớn vào các sản phẩm XK của một số ít DN FDI chưa bảo đảm tính bền vững trong tăng trưởng xuất khẩu. Điều này càng cảnh báo nguy cơ rủi ro, trong trường hợp các DN này bị suy giảm doanh số tiêu thụ hay gặp những biến cố bất thường khác sẽ dẫn đến kim ngạch XK sụt giảm. Bên cạnh đó, VN vẫn phải nhập khẩu phần lớn nguyên - nhiên liệu phục vụ sản xuất và XK, vì vậy phụ thuộc lớn vào thị trường bên ngoài. Khi giá cả và chính sách biến động sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.

Doanh nghiệp trong nước nhập siêu 13 tỉ USD

Trong tháng 8, cả nước nhập siêu ước 100 triệu USD, bằng 0,7% kim ngạch xuất khẩu. 8 tháng, theo Bộ Công Thương, giá trị nhập siêu lên tới 3,6 tỉ USD, bằng 3,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, khu vực FDI (không kể dầu thô) vẫn xuất siêu 6,65 tỉ USD; nếu kể cả dầu thô, khu vực FDI xuất siêu gần 9,4 tỉ USD. Trong khi nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước ước đạt khoảng 13 tỉ USD. Cán cân nhập siêu vẫn đang nghiêng về phía DN trong nước.

Xem thêm

Giá xăng dầu biến động không đáng kể

Chiều ngày 2/10, lãnh đạo một doanh nghiệp đầu mối cho hay, trong kỳ 15 ngày qua giá xăng dầu trên thế giới không có nhiều biến động.

Do đó, theo vị này, trong lần điều chỉnh này (dự kiến trong hôm nay 3/10), giá xăng dầu sẽ không biến động đáng kể so với mức giá hiện tại.

“Chênh lệch giữa giá cơ sở với giá bán lẻ hiện tại chỉ vào khoảng 50-100 đồng/lít, do đó có điều chỉnh cũng sẽ rất ít”, ông nói.

Tại cuộc họp báo chiều 2/10 của Bộ Tài chính, ông Nguyễn Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính) cho biết, trong 9 tháng năm 2015, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Công Thương ban hành 17 văn bản điều hành giá xăng dầu (trong đó, giá xăng có 5 lần tăng, 7 lần giảm, 5 lần giữ ổn định).

So với thời điểm cuối năm 2014, tính đến thời điểm tháng 9/2015, giá bán lẻ xăng RON 92 tăng 70 đồng/lít, dầu diezel giảm 3.110 đồng/lít, dầu hỏa giảm 4.610 đồng/lít và dầu mazut giảm 3.490 đồng/lít.

Theo ông Tuấn, giá dầu các loại bán trong nước đều giảm mấy nghìn đồng/lít so với cuối năm 2014, riêng giá xăng có tổng giá tăng lớn hơn tổng giảm 70 đồng/lít. Như vậy, nếu tính bình quân cộng chung cả xăng và dầu vào thì chỉ số giá xăng dầu nói chung 9 tháng giảm mạnh.

Trước đó, tại buổi họp báo thường kỳ Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên cho biết, do giá xăng, dầu, giá gas trong nước tiếp tục giảm mạnh khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 giảm mạnh 0,21% so với tháng trước.

Theo Bộ trưởng Nên phân tích, CPI 9 tháng đầu năm tăng thấp, tuy nhiên, không có biểu hiện giảm phát mà còn có lợi cho nền kinh tế cũng như doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Theo quy định pháp luật về quản lý giá, cước vận tải hành khách tuyến cố định, cước vận tải hành khách bằng taxi, cước vận tải bằng xe buýt thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ phải kê khai giá. Đối với các mặt hàng này, cơ quan chức năng theo thẩm quyền đã tiến hành kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý giá và có những điều chỉnh phù hợp với biến động giá xăng dầu trên thị trường.

"Biến động giá xăng dầu còn ảnh hưởng đến một số mặt hàng khác liên quan đến đời sống của đông đảo nhân dân, các cơ quan chức năng đang chỉ đạo xem xét mức độ ảnh hưởng để có những kiến nghị điều chỉnh các quy định về quản lý giá cho phù hợp" - Bộ trưởng Nên nhấn mạnh.

Xem thêm

Diêm dân "mếu" vì bán 40kg muối mới mua được tô bún

Điệp khúc được mùa rớt giá

Theo ghi nhận của PV Dân trí, năm nay tại các tỉnh Nam Trung Bộ như Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa…. thời tiết nắng ráo liên tục nên nghề làm muối của diêm dân được mùa.

Diêm dân tỉnh Quảng Ngãi thu hoạch muối (Ảnh: Hồng Long)
Diêm dân tỉnh Quảng Ngãi thu hoạch muối (Ảnh: Hồng Long)

Tại Quảng Ngãi, giá muối rớt xuống còn từ 500 – 600 đồng/kg. Hiện lượng muối tồn từ vụ trước và vụ năm nay, ước khoảng 6.000 tấn. Diêm dân Trần Ngọc Thạch (ngụ thôn Tân Diêm, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ) nói như mếu: “Mấy năm gần đây, người làm muối ở Sa Huỳnh luôn chịu cảnh nuốt nước mắt vào lòng, vì giá muối liên tục rớt thê thảm. Bây giờ chúng tôi đã đầu tư xây ruộng muối bằng xi măng cho ra muối sạch, vậy mà giá vẫn thấp. Nghĩ đến cảnh bán 40 kg muối mà chỉ ăn được tô bún thì quá bạc bẽo”.

Muối tồn đọng tại Quảng Ngãi (Ảnh: Hồng Long)
Muối tồn đọng tại Quảng Ngãi (Ảnh: Hồng Long)

Ngay đầu vụ mùa muối năm nay (đầu tháng 4), giá muối còn ở mức khoảng 1.000 đồng/kg. Nhiều diêm dân bỏ nghề làm muối, lặn lội tìm kiếm các nghề khác để mưu sinh. Theo thống kê, vựa muối Sa Huỳnh có 115ha với gần 600 hộ làm muối. Nếu hoạt động hết công suất, sản lượng thành phẩm ước khoảng 55.000 tấn/vụ.

Diêm dân thu hoạch muối trên cánh đồng muối Hòn Khói, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa (Ảnh: Viết Hảo)
Diêm dân thu hoạch muối trên cánh đồng muối Hòn Khói, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa (Ảnh: Viết Hảo)

Ông Nguyễn Kỳ - Chủ tịch UBND xã Phổ Thạnh cho biết: “Tình trạng giá muối quá thấp, người làm muối đã cực khổ ngoài đồng, rồi lại gánh lỗ nữa. Cho nên mùa vụ này, nhiều hộ dân không làm muối nữa, họ bỏ trống cánh đồng và kiếm nghề khác làm ăn. Do đó, lượng muối tồn còn ít hơn nhiều so với vựa muối hoạt động hết khả năng. Trong thời gian tới, địa phương kiến nghị các cấp tìm cách tháo gỡ, giúp diêm dân đỡ gánh nặng đầu ra và giá thành ít nhất cũng đủ sống”.

Cũng trong vụ muối năm nay, vào tháng 6, giá muối chỉ còn 200 đồng/kg và không có thương lái nào mua. Mặc dù sản lượng giảm nhiều nhưng giá cũng giảm theo.

Diêm dân Khánh Hòa lao động vất vả trên cánh đồng muối Hòn Khói (Ảnh: Viết Hảo)
Diêm dân Khánh Hòa lao động vất vả trên cánh đồng muối Hòn Khói (Ảnh: Viết Hảo)

Tương tự, tại Khánh Hòa, muối cũng đang mất giá so với mọi năm khiến diêm dân điêu đứng. Hiện địa phương này có gần 1.000 ha muối, trong đó tập trung ở thị xã Ninh Nòa (khoảng 800 ha), TP Cam Ranh, huyện Vạn Ninh… Từ đầu năm đến nay, tổng sản lượng muối làm ra ở Khánh Hòa là hơn 102.000 tấn, tăng 207% so với năm ngoái. Chi cục Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa, cho biết, hiện toàn tỉnh này còn tồn hơn 51.000 tấn muối, trong đó muối doanh nghiệp 34.000 tấn, muối diêm dân 13.000 tấn, còn lại là muối hợp tác xã.

Theo tìm hiểu, hiện giá muối tại Khánh Hòa dao động ở mức 550 đồng/kg muối đất và 650 đồng/kg muối trải bạt. Theo dự báo, mặc dù muối đang tồn đọng nhưng các doanh nghiệp, diêm dân chưa cần bán vì họ cho rằng giá muối sẽ tăng do đang vào mùa mưa.

Những đồi muối được chất đống vì mất giá (Ảnh: Viết Hảo)
Những đồi muối được chất đống vì mất giá (Ảnh: Viết Hảo)

Nhiều biện pháp hỗ trợ cho diêm dân

Trước thực trạng trên, tỉnh Khánh Hòa đang thực hiện đề án hỗ trợ lãi suất để Công ty CP Muối Cam Ranh thực hiện mua muối ổn định giá nhằm khắc phục khó khăn cho diêm dân.

Gánh muối (Ảnh: Viết Hảo)
Gánh muối (Ảnh: Viết Hảo)

Trao đổi với PV Dân trí, ông Trương Hữu Lan, Chi Cục trưởng Chi cục Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa, cho rằng để tránh xảy ra hiện tượng muối tồn đọng hàng loạt, mất giá… thì cần phải có nguồn vốn để mua muối bình ổn giá nhằm giúp diêm dân bớt khó khăn.

Mỗi ngày gánh muối, diêm dân được hơn 100.000 đồng (Ảnh: Viết Hảo)
Mỗi ngày gánh muối, diêm dân được hơn 100.000 đồng (Ảnh: Viết Hảo)

Ngoài ra, ông Lan cũng cho rằng, hiện nay diêm dân đa phần là làm muối thủ công, hiệu quả thấp. Do đó, Nhà nước cần quan tâm, hỗ trợ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, cải tạo giao thông nội đồng, cơ giới hóa nghề làm muối để “giải phóng” sức lao động cơ bắp của diêm dân hiện nay.

Các chuyên giá cho rằng, cần áp dụng tiến bộ kỹ thuật để giải phóng sức lao động cơ bắp của diêm dân (Ảnh: Viết Hảo)
Các chuyên giá cho rằng, cần áp dụng tiến bộ kỹ thuật để giải phóng sức lao động cơ bắp của diêm dân (Ảnh: Viết Hảo)

“Mỗi ngày mỗi diêm dân gánh muối chỉ hơn 100.000 đồng/ngày mà trên nắng, dưới muối thì rất nặng nhọc. Nhưng nếu áp dụng cơ giới hóa đồng loạt thì người dân sẽ thất nghiệp. Do đó, cần tính toán làm từng bước, từng phần để nâng cao sản lượng muối”, ông Lan trăn trở.

Xem thêm

Nhiều mặt hàng xuất khẩu 'bốc hơi' nghìn tỷ

1. Cà phê

 

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 9 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt 961.000 tấn, tương đương giá trị 1,96 tỷ USD, giảm 31,2% về khối lượng và 32,2% về giá trị so với cùng kỳ 2014 (2,7 tỷ USD). Như vậy, chỉ trong 9 tháng cà phê Việt Nam đã “bốc hơi” 0,74 tỷ USD (hơn 16.000 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm ngoái.

Nguyên nhân khiến lượng hàng xuất khẩu này giảm mạnh là do các nước nhập khẩu giảm tiêu thụ, trong đó, hai thị trường chủ lực là Mỹ và Đức đều đi xuống so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, thời tiết thay đổi, mưa đến sớm khi thu hoạch và thời kỳ cà phê phát triển gặp hạn hán nên nhiều vùng không đủ nước tưới đã bị mất trắng. Cùng với đó, ngày công lao động và giá phân bón lên cao, khiến người trồng cà phê giảm lượng phân chăm sóc, sản lượng không được như kỳ vọng. Số lượng cà phê già ngày một tăng, năng suất thấp dẫn đến cả niên vụ 2014 - 2015 đã thu hoạch xong giảm tới 20%.

2. Cao su

ca_1443861180.jpg

Là mặt hàng điêu đứng suốt mấy năm qua, nên 9 tháng đầu năm nay lượng cao su xuất khẩu tiếp tục xuống thấp, chỉ đạt 740.000 tấn, tương đương giá trị 1,06 tỷ USD, giảm 13,7% về giá trị so với 2014 (1,25 tỷ USD), mất tương đương trên 4.000 tỷ đồng. 

3 thị trường chính của Việt Nam là Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ với thị phần chiếm 71,85%. 9 tháng đầu năm nay chỉ có Trung Quốc là tăng nhập khẩu, còn 9 thị trường còn lại, trong đó, có 2 thị trường chính trên đều thụt lùi. Do giá cao su liên tục giảm khiến nhiều hộ trồng thua lỗ và phải chặt bỏ, thay thế bằng cây trồng khác.

Hiện giá cao su xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ còn 26.000 NDT một tấn, so với mức 36.000 NDT thời điểm 18/2. Giá cao su SVR 20 xuất khẩu ra các thị trường khác giảm xuống từ mức 100.000 đồng một kg, FOB, xuống còn 77.000 đồng.

3. Gạo

gao_1443861194.jpg

Thống kê mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho thấy, 9 tháng đầu năm, khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt 4,47 triệu tấn, tương đương giá trị 1,92 tỷ USD, lần lượt giảm 10,1 và 16% so với 2014 (2,29 tỷ USD). Như vậy, chỉ trong 9 tháng 2015, ngành gạo “bốc hơi” trên 8.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm ngoái. 

Nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu giảm là do những tháng đầu năm thị trường gạo lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc tạm ngưng thu mua. Cùng với đó, xu hướng nhập gạo của quốc gia này những tháng giữa năm chậm lại, nhiều hợp đồng bị trì hoãn do biến động tỷ giá. 

Hiện giá gạo bình quân 8 tháng đầu năm của Việt Nam cũng chỉ 430,87 USD một tấn, giảm 5,08% so với cùng kỳ 2014. Gạo 5% tấm vào khoảng 340 USD một tấn, tăng 10 USD so với tháng trước nhưng giảm tới 105 USD so với năm ngoái, đồng thời, rẻ hơn gạo Thái Lan 20 USD một tấn, Camphuchia 80 USD.

4. Tôm

tom.jpg

9 tháng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 4,69 tỷ USD, giảm 17,8% so với cùng kỳ 2014 (5,7 tỷ USD). Điều này cho thấy, 9 tháng đầu năm giá trị xuất khẩu của thủy sản "bốc hơi" trên 22.000 tỷ đồng so với cùng kỳ 2014. Trong đó, tôm là mặt hàng biến động mạnh nhất. 

Theo thống kê của Hiệp hội chế biến thủy sản Việt Nam (Vasep), kim ngạch xuất khẩu tôm 8 tháng đạt 1,8 tỷ USD, giảm 30% so với năm ngoái là 2,6 tỷ USD (giảm khoảng 17.600 tỷ đồng)

Là một trong những cánh chim đầu đàn của ngành thủy sản Việt Nam, báo cáo tài chính soát xét 6 tháng của “vua tôm” Minh Phú cho thấy đơn vị lỗ 17 tỷ đồng, giảm mạnh so với 463 tỷ cùng kỳ năm ngoái. 

Theo Vasep, nguyên nhân khiến xuất khẩu tôm lao dốc là do giá tôm của Việt Nam giảm mạnh, đáng chú ý nhất là thị trường Mỹ rẻ hơn 1,5 -2 USD một kg so với cùng kỳ năm ngoái. Thêm vào đó, các nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Indonesia... đua nhau phá giá đồng tiền, khiến giá sản phẩm Việt khó cạnh tranh về giá so với các nước xuất khẩu khác như Ấn Độ, Thái Lan, Ecuador.

Tại một số thị trường nhập khẩu chủ lực như Nhật Bản, châu Âu cũng bị tác động mạnh vì đồng yen và euro giảm giá mạnh so với USD, khiến các nhà nhập khẩu phải hạ giá mua và hạn chế mua vào.

Vasep dự báo, xuất khẩu tôm năm 2015 chỉ vào khoảng 3,2 - 3,5 tỷ USD, giảm mạnh so với 2014.

(Theo vnexpress.net)

 
Xem thêm